This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

15 NGÀY CÙNG THÁNH MARTIN CẦU NGUYỆN

Nguyên tác: Saint Martin de Porres : A Saint of the America
Tác giả : Brian J. Pierce, O.P.
Chuyển ngữ : Antôn Trần Bảo Toàn, O.P.
Phát hành: Tủ sách Tấm Lòng Vàng, Đền Thánh Martin, 11.2013
Số trang: 192
Kích cỡ: 10x15cm


CHÂN DUNG CHA ĐA MINH QUA CÁC NHÂN CHỨNG

Tài liệu cổ nhất của Dòng về cha Đa Minh, bao gồm lời kể của các nhân chứng trong án phong thánh cho Cha.
Chuyển ngữ: Học viện Đa Minh
Phát hành: Học viện Đa Minh, 2012
Số trang: 154
Kích cỡ: 10x14cm


LỜI NGỎ

“Khoảng lặng” trong một hành trình dài đôi khi rất quan trọng. Một chút dừng chân để biết ta đang ở đâu và đích đến phía trước sẽ như thế nào. Hành trình lịch sử 800 năm Dòng hiện diện và phục vụ cũng cần những “khoảng lặng” như thế…

“Lặng” để nhìn lại. Nhìn lại chân dung của Đấng sáng lập. Không một bút tích, nhưng qua những chứng từ sống động của anh em đương thời, đặc biệt qua Sắc lệnh Phong Thánh của Đức Grêgôriô IX, một chân dung được họa lại. Một chiến sĩ đức tin can trường; người canh giữ vườn nho Giáo hội; “con ngựa đốm” dũng mãnh của Thiên Chúa với nhiệt tâm rao giảng vì ơn cứu độ các linh hồn. 

“Lặng” để dõi theo. Dõi theo những nhân đức phi thường trong một tâm hồn dung dị, khiêm hạ của người lữ khách Tin mừng. Thánh Tổ phụ say nồng Thiên Chúa và say mê ơn cứu độ tha nhân. Người thu hút các linh hồn bằng tình yêu mãnh liệt, bằng đời sống khó nghèo triệt để, bằng tâm hồn thanh khiết vui tươi, bằng tinh thần suy phục tìm kiếm Thiên Chúa. 

Con người ấy, William di Monferrato, Amizio Milan hay Phaolô Venice… gọi là con người của Giáo hội và con người của cầu nguyện,… Còn Đức Grêgôriô IX trong Sắc lệnh Phong Thánh sánh ví như “vận động viên can trường chuyên chăm theo đuổi đường công chính...”

Tập sách nhỏ này như một “khoảng lặng” để nhìn lại chân dung tinh thần và dõi theo hương thơm nhân đức của Đấng sáng lập. Đó không chỉ là một mẫu gương, nhưng hơn hết là một “dòng sống”, vẫn không ngừng tuôn chảy trong truyền thống và tinh thần của mỗi Anh Em Giảng Thuyết qua mọi thời. 

Tu viện Mân Côi, ngày 01-09-2012
Học viện Đa Minh

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

HẠT MẦM ĐỨC TIN - Bài Giảng Chúa Nhật Năm A

Tác giả : Jude Sicilinano, O.P.
Phát hành : Học viện Đa Minh, 3.11.2013
Chuyển ngữ : Học viện Đa Minh
Kích cỡ : 14.5x20.5cm
Số trang : 302



LỜI GIỚI THIỆU

Kính thưa quý độc giả,

Thiên Chúa đã gieo hạt mầm đức tin vào mảnh đất cuộc đời mỗi người, để nhờ tấm lòng quảng đại chăm sóc và lòng kiên trì, cây đức tin trổ sinh nhiều hoa trái tốt lành. Đó là điều mong ước của người gieo và cũng là khát vọng của những người đón nhận tức là chúng ta. Chắc hẳn, cả người gieo lẫn người đón nhận đều không thể nào an tâm khi chứng kiến những hạt mầm đức tin bị ánh nắng mặt trời thiêu đến chết khô, những lo lắng cùng khoái lạc trần thế bóp nghẹt hay bão táp làm bật gốc.

Trong suốt lịch sử nhiều thế kỷ, Giáo Hội đã luôn tìm được sức mạnh trong Lời Chúa, và cả hôm nay nữa, cộng đoàn Giáo Hội cũng đang lớn lên nhờ lắng nghe, cử hành và học hỏi Lời Chúa. Thật vậy, Tông huấn Verbum Domini, số 3 khẳng định: “Giáo Hội được xây dựng trên nền tảng Lời Chúa, được sinh ra từ Lời Chúa và sống bởi Lời Chúa. Do đó, Giáo Hội sống trong sự xác tín rằng Thiên Chúa, Đấng đã nói trong quá khứ, hôm nay vẫn tiếp tục truyền thông Lời của Người trong Truyền Thống sống động của Giáo Hội và trong Kinh Thánh”.

Quả thật, một khi sống kinh nghiệm với Lời Chúa cách phong phú, mỗi người sẽ trở thành những sứ giả của Lời, để hồng ân sự sống và hiệp thông của Thiên Chúa lan tràn mãi trên khắp thế giới, giúp mọi người có nhiều hơn những cơ hội yêu mến Lời Chúa ngày một hơn, đồng thời giúp cho hạt mầm đức tin được lớn mạnh và trổ sinh những hoa trái thánh thiện và bác ái nơi mỗi tâm hồn.

Những bài giảng trong cuốn sách này là tập hợp các bài giảng Chúa Nhật Năm C của cha Jude Siciliano. Với sự cho phép của tác giả, Anh Em Học Viện Đa Minh Việt Nam chuyển ngữ các bài giảng này với ước mong chia sẻ và tiếp thêm chất liệu suy tư cho những người có phận vụ giảng thuyết chuẩn bị bài giảng được thêm phong phú, nhờ đó thính giả được nghe những lời hữu ích và có được những biến đổi trong tâm hồn. 

Xin cho Lời Chúa luôn là ngọn đèn soi bước ta đi!

Lễ thánh Luca, Tác giả sách Tin Mừng, 

Ngày 20 tháng 10 Năm 2013

Anh Em Học viện Đa Minh

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

CHẤM NỐI CHẤM - Suy niệm Tin Mừng hằng ngày - Năm A

Tác giả : Học viện Đa Minh
PHÁT HÀNH : Học viện Đa Minh, 11-2013
Số trang : 424
Kích cỡ : 14.5x20.5cm
Giá bìa :  40.000Đ






LỜI GIỚI THIỆU

Nhịp thời gian là nhịp nền tảng của cuộc sống. Đối với người Ki-tô hữu, từng khoảnh khắc, từng giây phút phải là một cử hành đức tin, một cử hành phản ánh sự gặp gỡ sống động với Thiên Chúa Hằng Sống.

Đức Thánh cha Phan-xi-cô trong Thông điệp Lumen Fidei một lần nữa khẳng định: Đức tin là một ân ban siêu nhiên, đồng thời là lời mời gọi con người không ngừng tìm kiếm và khám phá mỗi ngày, “không có kinh nghiệm nào của con người, không có con đường nào của con người hướng về Thiên Chúa, mà không được đón nhận, thanh lọc và soi sáng bởi ánh sáng đức tin” (Lumen Fidei, số 35).

Thật vậy, vẻ đẹp đức tin được chiếu toả ngang qua kinh nghiệm hiện sinh của con người. Từng khoảnh khắc phải là cuộc gặp gỡ sống động với Thiên Chúa. Từng ngày sống phải là cuộc tìm kiếm không ngừng vẻ đẹp đức tin. 365 ngày chính là những “cánh cửa hy vọng” dẫn con người bước vào tương quan với Thiên Chúa. 365 ngày là nhịp căn bản của đời sống, cũng chính là nhịp sống đức tin của mỗi người Ki-tô hữu.

Trong tâm tình và ý nghĩa đó, Học Viện Đa Minh xin giới thiệu cùng quý độc giả tập sách suy niệm “Chấm nối Chấm...” như một đóng góp giúp mỗi người khám phá vẻ đẹp đức tin qua việc suy gẫm Lời Chúa mỗi ngày.

Sài Gòn, ngày 01/10/2013
Lễ kính thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su
Ts. Giu-se Nguyễn Cao Luật, O.P.

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

NHỮNG MÔN ĐỆ TIÊN KHỞI CỦA THÁNH ĐA MINH (2 tập)



Nguyên tác : Pháp ngữ: Antoine Touron, O.P., Histoire Abrégée des Fremiers Disciples de saint Dominique, 1739. Anh ngữ : Victor F O’Daniel (bs), The First Disciples of Saint Dominic, 1928. Bản Việt ngữ dịch từ bản Anh ngữ.
Chuyển ngữ : Học viện Đa Minh.
Phát hành : Học viện Đa Minh, 2011 & 2012.
Số trang : Tập 1 - 264tr ; Tập 2 - 260tr. 

Kích cỡ : 14x20cm
-----------------


LỜI TỰA

Đây là bản dịch tác phẩm “The First Disciples of Saint Dominic”, do cha Victor F. O’Daniel biên soạn dựa theo cuốn “Histoire Abrégée des Premiers Disciples de saint Dominique” của cha Antoine Touron. Như vậy cuốn sách này có một nguồn gốc khá phức tạp.
1/ Nguồn gốc cổ nhất là nguyên tác bằng tiếng Pháp của cha Antoine Touron O.P. Cha chào đời ngày 5/9/1686 tại Graulhet, tỉnh Tarn, miền Đông Nam nước Pháp, và từ trần tại Paris ngày 2/9/1775, nghĩa là thọ gần 90 tuổi. Xem ra cha đi tu từ khi còn trẻ. Sau khi thụ phong Linh mục, cha được cử vào sứ vụ giảng thuyết và dạy học. Mãi đến tuổi “ngũ thập” cha mới bắt đầu công việc biên soạn, kéo dài cho đến lúc qua đời, với gần 30 đầu sách. Phần lớn các tác phẩm của cha dành vào việc nghiên cứu lịch sử của Dòng Đa Minh, trong đó nổi tiếng hơn cả là: “Vie de saint Thomas d'Aquin” (1737 vừa là tiểu sử vừa trình bày học thuyết của vị Tiến sĩ thiên thần), “Vie de saint Dominique avec une histoire abrégée des ses premiers disciples” (1739, cuộc đời thánh Đa Minh với lược sử các môn đệ tiên khởi), “Histoire des hommes illustres de l'Ordre de saint Dominique” (1743-1749, Tiểu sử các danh nhân của Dòng Đa Minh gồm 6 quyển).

2/ Dựa trên những phác thảo của cha Touron, cha Victor O’Daniel, giáo sư sử học tại học viện Washington, đã biên soạn cuốn sách bằng tiếng Anh, bổ túc thêm với những tài liệu được xuất bản trong các thế kỷ kế tiếp, cũng như kiểm tra các nguồn tư liệu. Tác phẩm gồm tiểu sử của 56 anh em thuộc thế hệ đầu tiên của Dòng, nghĩa là sống vào thời của thánh Tổ phụ, phần lớn đã được chính người trao áo dòng. Họ đã được sai đi lập Tu viện ở nhiều nơi tại Âu châu. Họ đã đảm trách nhiều trách nhiệm trong Dòng và trong Giáo hội, trong số đó hai vị được phong thánh và 11 vị chân phước.

3/ Bản dịch tiếng Việt này được chia làm hai phần: phần đầu gồm 30 nhân vật, và phần còn lại được dành cho tập II. Chúng tôi chỉ giữ lại vài trích dẫn (footnotes) xem ra cần thiết. Đây là một công trình tập thể của lớp Thần học I (niên khóa 2010-2011) để đánh dấu ngày tuyên khấn trọng thể trong Dòng (15/8/2011).

Nguyên tác được xuất bản từ năm 1928. Từ đó đến nay, đã phát hành nhiều công trình về lịch sử của Dòng, cách riêng kể từ khi thành lập Viện Sử học Dòng Đa Minh (Institutum Historicum Ordinis Praedicatorum năm 1931). Tuy vậy quyển sách này vẫn còn giá trị bởi vì là nguồn duy nhất cung cấp nhiều dữ liệu về nhiều Anh Em Giảng Thuyết ít được biết đến.

Hy vọng tập sách này sẽ đóng góp phần nào vào việc tìm hiểu thời buổi khai sinh Dòng Đa Minh, để chuẩn bị mừng kỷ niệm 800 năm Dòng được Tòa thánh châu phê (21/12/1216). Ước mong rằng đến ngày ấy, chúng ta sẽ dịch được những tác phẩm căn bản:

- Hiến pháp nguyên khởi (Constitutiones Primaevae s. Ordinis Praedicatorum).

- Hồ sơ phong thánh của thánh Đa Minh.

- Đời sống anh em (Vitae Fratrum) của Gerald de Frachet (1259?).

- Chú giải Tu luật thánh Âutinh của cha Humbert de Romans.

* * *

Thật khó đoán được tác giả đã theo thứ tự nào khi trình bày danh sách các môn đệ của thánh Đa Minh: không phải thứ tự ABC, cũng không hẳn là thứ tự niên tuế.

Chúng tôi xin thêm vài chú dẫn để hiểu thêm bối cảnh của các câu chuyện.

1/ Bối cảnh chính trị

Bản đồ Âu châu thế kỷ XIII hoàn toàn khác với ngày nay. Thời ấy chưa có ranh giới giữa các quốc gia, vì thế không lạ gì thánh Đa Minh có thể đi lại dễ dàng từ Tây Ban Nha sang Pháp và Ý. Một cách tương tự như vậy, nhiều sinh viên từ nhiều miền khác nhau của châu Âu đã đến học ở Paris hay Bologna, tại đây họ đã quen biết thánh Đa Minh.

Đối lại, trên lãnh thổ của nước Ý ngày nay, có rất nhiều thực thể tự quản (tựa như: “cộng hoà”, “thành phố”, “quận công”, vv) chứ không có vua. Đức Giáo hoàng cũng là một tiểu vương ở miền Trung nước Ý.

Mặt khác, tại Ý có hai phe luôn chống đối nhau: Guelfi (gốc tiếng Đức Welf) ủng hộ Giáo hoàng; và Ghibelli (gốc tiếng Đức Wibeling) ủng hộ Hoàng đế. Cuộc tranh chấp diễn ra giữa các thành phố và đôi khi ngay trong cùng một thành phố, và thường được coi như tranh chấp giữa “giáo quyền” với “thế quyền”.

2/ Bối cảnh tôn giáo

Lịch sử Dòng Đa Minh gắn liền với việc đương đầu với các lạc giáo Albigeois, Cathares, Manichées, Vaudois.[1] Vào thế kỷ XI-XII Giáo hội bắt đầu thiết lập các tòa Inquisitio. Các dịch giả đã chuyển ngữ bằng nhiều từ ngữ: “toà án xử dị giáo, toà giáo pháp, pháp đình tôn giáo, toà Tra, tòa điều tra”, có lẽ bởi vì họ không hiểu bản chất của nó là gì. Thật ra bộ mặt của nó đã thay đổi khá nhiều từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII. Vào thời nguyên thuỷ của Dòng Đa Minh, toà Inquisitio do Giáo hoàng Grêgôriô IX thiết lập năm 1232 (nghĩa là hơn 10 năm sau khi thánh Đa Minh qua đời), và uỷ thác cho Dòng Giảng Thuyết. Nhiệm vụ là “điều tra” (tra cứu, tra vấn: inquisitio), nghĩa là truy lùng những người lạc đạo, thu thập bằng chứng, tổ chức phiên toà và phán xử. Các thẩm phán hành động nhân danh Giáo hoàng. Nếu đã có những thẩm phán bị tố cáo là khắc nghiệt, thì cũng có những vị bị lạc giáo thủ tiêu, chẳng hạn như Henri de Louvain bên Đức (1233), Guillaume Arnau ở Avignonet (1242), và thánh Phêrô Vêrôna (1252). Đừng quên là các lạc giáo cũng có quân đội của họ! Vào thời đó, các lạc giáo không chỉ là những ý kiến sai lầm về tín lý, nhưng còn là những tổ chức ảnh hưởng đến đời sống chính trị xã hội. Dĩ nhiên, sự trà trộn giữa “đạo” và “đời” có mặt phải và mặt trái của nó.

3/ Ngoài biên cương

Thánh Đa Minh mơ ước đi giảng đạo cho người Cumans. Đây là một từ ngữ ám chỉ một sắc dân từ Trung Á (Karakistan) tràn sang, và định cư ở miền Hungari và Bulgari. Thực ra, vào thời ấy, người ta gọi chung đoàn quân xâm lăng từ châu Á là Tartari bao gồm cả người Mông cổ lẫn người Thổ Nhĩ Kỳ và người Cumans.

Trong tiểu sử thánh Giaxintô, chúng ta gặp thấy những danh xưng “Tiểu Nga” (Little Russia) và “Đại Nga” (Great Russia). Những danh từ này được đặt ra thời Trung cổ, để gọi miền đất của dân Rus: Tiểu Nga ám chỉ vùng ở phương Nam (tương đương với vùng Ukren, với thủ đô là Kiev); Đại Nga ở phương Bắc tương đương với nước Nga ngày nay.§

Ts. Giuse Phan Tấn Thành, O.P.

-------------
[1] Albigeois. Tên lấy theo địa danh, Albi, miền Nam nước Pháp, đặt cho nhóm người Cathari có nghĩa là những người “được thanh luyện”, danh từ ám chỉ những thành viên cao cấp của phong trào theo thuyết Nhị nguyên, du nhập từ Đông phương, với nguồn gốc xa xưa từ ông Mani (216-217), vì thế mang danh là đạo Manikê. Còn Vaudeois là những người đi theo ông Pierre de Vaux (hoặc Valdes, Valdo) gốc ở Lyon (+1197), cổ động việc trở về tinh thần nghèo khó của Tin mừng; ông cũng ủng hộ cho các giáo dân đi giảng thuyết. Lý tưởng của ông khá giống với chủ trương của thánh Đa Minh và thánh Phan Sinh. 


GIÁO HỘI CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM (2 tập)



Tác giả : Vinh Sơn Bùi Đức Sinh, O.P.
Phát hành : NS. Máctinô – Hố Nai.
Số trang : Q.1 - 514tr ; Q.2 - 620tr

Kích cỡ : 14x20cm



DÒNG ĐA MINH TRÊN ĐẤT VIỆT (3tập)

 

Tác giả : Vinh Sơn Bùi Đức Sinh, O.P.
In lần II - Có sửa chữa và bổ túc, 1995 
Phát hành : NS. Máctinô – Hố Nai
Số trang : Q.1 - 314tr
               Q.2 - 302tr
              Q.3 - 300tr 
Kích cỡ : 14x20cm





Về tác giả : 
Lm. Vinh Sơn Bùi Đức Sinh
Sinh ngày 06.10.1926, Hải Dương
Khấn dòng ngày 17.09.1946, Nam Định
Linh mục ngày 03.05.1953, Hồng Kông
Tốt nghiệp Cao học sử học,
Đại học Montréal - Canađa



DÒNG ĐA MINH TRÊN THẾ GIỚI

Tác giả : Vinh Sơn Bùi Đức Sinh, O.P.
Phát hành : Ns. Máctinô - Hố Nai, 2010
Số trang : 76
Kích cỡ : 14x20cm

CUỘC LỮ HÀNH ĐỨC TIN II (Phục hưng – Hiện đại – Giáo hội Việt Nam)

Tác giả : P.X. Đào Trung Hiệu, O.P.
Phát hành : Trung tâm Học vấn Đa Minh, 2010
Số trang : 256
Kích cỡ : 14x20cm

Giáo trình TTHVĐM






Nội dung

Phần III :
GIÁO HỘI THỜI PHỤC HƯNG
* Phục hưng và cải cách
*Cuộc canh tân Giáo hội (c.đồng Trentô)
* GH và cuộc khủng hoảng lương tâm Tk.18
* Phúc Âm hóa toàn thế giới (Tkỷ 15-18)

Phần IV :
GIÁO HỘI THỜI HIỆN ĐẠI
* Từ Cách Mạng 1789 đến Vatican I
* GH giữa thế giới Tân Tiến (1870-1939)
* Sự trưởng thành các xứ truyền giáo Tk. 19
* Giáo Hội thời Vatican II (1939-1985)

 Phần V :
GIÁO HỘI VIỆT NAM
* GHVN thời sơ khai (tk 16-17)
* GHVN xây dựng và phát triển
* GHVN thời cận đại (1802-1933)
* Chân dung các thánh tử đạo Việt Nam
* Giáo hội Việt Nam hiện nay
* Lược sử Giáo hội Việt Nam

CUỘC LỮ HÀNH ĐỨC TIN I (Thượng cổ – Trung cổ)

Tác giả : P.X. Đào Trung Hiệu, O.P.
Phát hành : Trung tâm Học vấn Đa Minh, 2010
Số trang : 128
Kích cỡ : 14x20cm

Giáo trình TTHVĐM





Nội dung

GIÁO HỘI THỜI THƯỢNG CỒ
* Giáo hội thời Sứ Đồ
* Giáo hội thời tử đạo
* Đế quốc Roma tòng giáo
* Việc hình thành kinh Tin Kính
* Truyền thống : Các Giáo Phụ

Phần II :
GIÁO HỘI THỜI TRUNG CỒ
* Âu Châu ki-tô hóa (tk 6-11)
* Bối cảnh phát sinh Chính Thống Giáo
* Những nền tảng Nước Kitô (tk 11-13)
* Ảo vọng quyền lực
* Hoa trái của lòng tin
* Nước Kitô thời khủng hoảng

LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO, QUYỂN II (Cận kim và đương kim – Giáo hội Việt Nam)

Tác giả : Vinh sơn Bùi Đức Sinh, O.P.
Phát hành : NS. Máctinô, Hố Nai, 2009
Số trang : 550
Kích cỡ : 14x20cm







Nội dung
Chương Một. MỘT CUỘC CẢI CÁCH TÔN GIÁO (t.k. XVI)
I. Luther đương đầu với Tòa thánh Roma
II. Giáo hội Cải cách ở Đức
III. Calvin với Giáo hội Tin lành ở Pháp và Thụy Sĩ
IV. Henry VIII và Anh giáo
Chương Hai: CUỘC PHỤC HƯNG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO (t.k. XVI)
I. Phong trào Cải cách trước Công đồng Trento
II. Đại Công đồng Trento 1545-1563
III. Hoạt động của các thánh nhân thời hậu Công đồng Trento
IV. Công cuộc truyền giáo cho Dân ngoại
Chương Ba: GIÁO HỘI THỜI KHOA HỌC VÀ VĂN NGHỆ CỔ ĐIỂN (tk. XVII)
I. Giáo hội Phục hưng ở Pháp
II. Giáo hội trong lãnh vực khoa học và văn nghệ
III. Giáo hội với sứ mạng truyền giáo
Chương Bốn: GIÁO HỘI ĐỨNG TRƯỚC
MỘT CUỘC KHỦNG HOẢNG TINH THẦN (t.k. XVII-XVIII)
I. Những lạc thuyết mới
II. Những giáo thuyết nguy hiểm
III. Giáo hội từ đức Beneđictô XIV đến đức Clementê XIV (1740-1774)
IV. Giáo hội thời Cách mạng Pháp (1789-1799)
Chương Năm: GIÁO HỘI VÀ CHỦ NGHĨA TỰ DO CHÍNH TRỊ (t.k. XIX)
I. Giáo hội tại các nước Công giáo
II. Giáo hội Công giáo tại các nước Tin lành và Chính thống
III. Đời sống nội bộ của Giáo Hội
Chương Sáu: GIÁO HỘI ĐỨNG TRƯỚC VẤN ĐỀ
TÔN GIÁO, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI THỜI CẬN ĐẠI (1850-1914)
I. Giáo hội từ đức Piô IX đến đức Piô X
II. Giáo hội tại các nước Âu châu thời Cận kim
III. Đời sống nội bộ của Giáo hội Cận đại
Chương Bảy: HỘI THÁNH VỚI SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO (t k. XIX-XX)
I. Hoạt động truyền giáo được cải tiến
II. Tin Mừng được rao giảng khắp nơi
III. Sự truởng thành của các xứ Truyền giáo
Chương Tám: CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM (t.k. XVI-XX)
I. Giáo hội ở Việt Nam thời mở đường và đặt nền móng
II. Giáo hội ớ Việt Nam thời xây dựng và tổ chức
III. Giáo hội ở Việt Nam vươn lên trong thử thách
IV. Giáo hội ở Việt Nam thế kỷ XX
Chương Chín: GIÁO HỘI 60 NĂM THẾ KỶ XX (từ 1914 đến 1974)
I. Giáo hội từ đức Beneđictô XV đến đức Piô XII
II. Giáo hội Công giáo tại các nước Âu châu sau hai thế chiến
III. Giáo hội thời Công đồng Vatican II
Kết luận
Phụ Chương

LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO, QUYỂN I (Thượng cổ – Trung cổ)

Tác giả : Vinh sơn Bùi Đức Sinh, O.P.
Phát hành : NS. Máctinô, Hố Nai, 2009
Số trang : 457
Kích cỡ : 14x20cm








Nội dung

Chương Một : GIÁO HỘI THỜI SỨ ĐỒ (t.k. I)
I. Giáo hội thời nguyên thủy ở Palestina
II. Thánh Phaolô trên đường truyền giáo
III. Thánh Pherô lập Tòa ở Roma và hoạt động của các tông đồ khác
IV. Một đức tin, một phượng tự, một quyền bính
Chương hai : GIÁO HỘI THỜI TỬ ĐẠO (t.k. I-IV)
I. Đế quốc Roma chống lại Tin Mừng
II. Đế quốc tiếp tục bách hại Giáo hội
III. Cờ Thánh giá trên đế quốc Roma
Chương Ba: GIÁO HỘI ĐỐI PHÓ VỚI CÁC GIÁO PHÁI (t.k. II-VI)
I. Những giáo phái thế kỷ II-IV
II. Giáo phái Arius và đại công đồng Nicea
III. Những lạc thuyết về Ngôi Hai Nhập Thể
Chương Bốn: CÁC THÁNH GIÁO PHỤ VÀ VĂN SĨ CÔNG GIÁO (t.k. II-VIII)
I. Các nhà hộ giáo và minh giáo
II. Các thánh giáo phụ Hy Lạp
III. Các thánh giáo phụ Latinh
IV. Các thánh Giáo phụ thời suy mạt
Chương Năm: GIÁO HỘI CẢM HÓA MAN DÂN (t.k. V-VII)
I. Man dân xâm lăng đế quốc Tây phương
II. Thái độ của Giáo hội đối với Man dân
III. Công cuộc cảm hóa Man dân
Chương Sáu : SỰ NGHIỆP CÁC DÒNG TU THỜI TRUNG CỔ (t.k. VII-XII)
I. Bậc tu hành thời Thượng cổ
II. Công cuộc truyền giáo của các dòng tu
III. Hoạt động trần gian của các đan viện
IV. Những cải cách và tiến triển của các dòng tu
Chương 7: CỘNG TÁC ĐẠO ĐỜI GIỮA THẦN QUYỀN VÀ THẾ QUYỀN (tk 8-13)
I. Giáo hội và nhà Carolingien
II. Giáo hội và chế độ Phong kiến
III. Giáo hội và Giáo hoàng tiến tới độc lập
Chương 8 : HỒI GIÁO, LY GIÁO ĐÔNG PHƯƠNG, BINH THÁNH GIÁ (tk 7-13)
I. Kitô giáo với Hồi giáo
II. Giáo hội Công giáo Đông phương
III. Giáo hội thời binh Thánh giá
Chương 9 : GIÁO HỘI THỜI HOÀNG KIM VĂN MINH TRUNG CỔ (t.k. XII-XIII)
I. Tổ chức Giáo quyền
II. Các dòng tu
III. Phụng vụ, nghệ thuật, văn hóa
Chương 10 : GIÁO HỘI THỜI CHUYỂN MÌNH CỦA THẾ GIỚI TRUNG CỔ
(t.k. 14-15)
I. Giáo hội Tây phương thời khủng hoảng
II. Khoa học thánh và Văn nghệ Phục hưng

III. Giáo hội hạ bán thế kỷ XV


Lời Tựa

Tác phẩm chúng tôi hân hạnh giới thiệu cùng quí vị đây, dành cho tất cả những ai muốn có một cái nhìn tổng quát về Lịch sử Giáo hội Công giáo và sự triển nở thiêng liêng của nó, qua các thời đại từ nguyên thủy đến nay.

Đây là bộ sách dành cho tất cả quý vị yêu thích lịch sử, muốn theo dõi những biến chuyển lớn để thêm hiểu biết vận mạng, cũng như trào lưu tư tưởng về tín lý, thần bí và luân lý của Giáo hội Công giáo.

Chúng tôi không có tham vọng, qua bộ sách này, sẽ tường thuật hết mọi biến cố, cũng không dám can thiệp vào những vấn đề còn được bàn cãi. Bộ Lịch sử này, xét về phương diện khoa học, không thể đòi xếp hạng với những bộ sách gồm cả chục quyển to lớn, bàn đến mọi chi tiết về quá khứ của Giáo hội. Vì thế, chúng tôi muốn giữ tính cách đơn giản khi tường thuật để được dễ hiểu. Chúng tôi bỏ qua những nhân vật nổi danh thật sự. Trong khi tường thuật, chúng tôi nhận biết thế nào cũng có nhiều khuyết điểm và thiếu sót, mà chúng tôi hy vọng được quí độc giả phủ chính và tha thứ.

Mục tiêu của tác phẩm này không phải là can dự vào sự rắc rối của những vụ tranh luận về tín lý, những cuộc tranh chấp ngôi vị cá nhân hay đoàn thể, đến độ làm như Lịch sử Giáo hội chỉ là một cuốn sách kể truyện “chiến tranh tự vệ” liên miên và vô vị, chống trả các phe phái hay lạc giáo. Chúng tôi muốn có một quan niệm cao hơn về sứ mạng của Giáo hội. Trước hết, chúng tôi đưa ra ánh sáng cái tiềm lực đã và còn làm cho Giáo hội sống động và uyển chuyển qua các thời đại. Chúng tôi sẽ trưng ra những ảnh hưởng của Giáo hội đối với Châu Âu và Thế giới.

Chúng tôi không thể bỏ qua phần sự nghiệp của nhiều Dân tộc Công giáo trong Lịch sử này. Không phải để ca tụng hay đả kích tính tự ái Dân tộc, nhưng để nêu rõ mỗi quốc gia đã có và còn có thể có sứ mạng phải thi hành; và chính lúc chịu mở cửa đón nhận Kitô giáo là lúc các quốc gia dù lớn dù nhỏ, đặc biệt các quốc gia Tây phương, được dịp may mắn nhất để ý thức về khả năng cũng như phận sự của họ. Khi đề ra cho họ một lý tưởng, tức là Giáo hội đã dành cho họ phương tiện để phát triển và thăng tiến. Chính ở điểm đó, Giáo hội Công giáo đã góp nhiều công vào việc xây dựng văn minh thế giới.

Chúng tôi luôn luôn cố gắng nói sự thật, dù là sự thật phũ phàng. Lịch sử Giáo hội nguyên nó đã làm phong phú đủ, để khỏi cần phải dùng đến những lời lẽ tô điểm làm lệch lạc chân lý. Trong mọi trường hợp, chúng tôi phải trung thực, vì đó là đặc tính quí báu nhất của các nhà hộ giáo. Song điều đó không có nghĩa là chúng tôi phải gò bó trong khi hành văn, hoặc không được phát biểu ý kiến riêng. Đứng trước một sự nghiệp vĩ đại, cao cả của Giáo hội, đứng trước những bậc thánh, những anh hùng hào kiệt, chúng tôi có quyền biểu lộ sự thán phục. Không ai cấm chúng tôi chú tâm vào tính chất thực tại hoặc vĩnh cửu của một số vấn đề, giá trị bất biến của những tấm gương sáng chói.

Quan niệm như thế, chúng tôi hy vọng sẽ làm hài lòng quí độc giả Công giáo. Đối với quí độc giả không Công giáo, chúng tôi xin quí vị đừng quá hoài nghi trước bộ mặt thật của Đạo Công giáo. Sau hết, chúng tôi ước mong được tất cả quí vị ban những lời chỉ giáo hầu giúp chúng tôi bổ túc mỗi lần tái bản.

Lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô năm 1971
Lm. Vinhsơn Bùi Đức Sinh O.P

YÊU VÀ GHÉT TRONG TIN MỪNG GIO-AN, PHẦN I VÀ II

Tác giả : Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Phát hành : Trung tâm Học vấn Đa Minh, 2010
Số trang : Phần I, 400; Phần II, 400
Kích cỡ : 14x20cm




Nội dung:

“YÊU” và “GHÉT” là đề tài lớn trong Tin Mừng thứ tư. Tin Mừng này được trình bày như một vụ kiện giữa “ánh sáng” và “bóng tối”, giữa lựa chọn “tin” hay “không tin”. Ngay từ đầu Tin Mừng (chương 3), tình yêu của Thiên Chúa dành cho thế gian: “Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi ban Con Một” (Ga 3,16) được đặt song song với tình yêu của con người dành cho bóng tối: “Người ta đã yêu mến bóng tối hơn ánh sáng” (3,19). Đến cuối Tin Mừng (chương 15), đề tài “ghét” được nhấn mạnh khi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (15,18).
Đứng trước “tình yêu dành cho bóng tối” và “sự thù ghét của thế gian”, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ sống theo nguyên tắc: “Ai yêu mạng sống mình thì mất nó; ai ghét mạng sống mình trong thế gian này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời.”
YÊU và GHÉT trong Tin Mừng Gio-an cố gắng tìm hiểu cách thức Tin Mừng Gio-an xây dựng thần học qua hai động từ đối lập “yêu – ghét”, qua việc trả lời những câu hỏi: Thế gian thù ghét là ai? Tại sao thế gian ghét các môn đệ? Hậu quả của việc yêu mến bóng tối là gì? Tại sao Đức Giê-su lại mời gọi các môn đệ “ghét mạng sống mình”, kiểu nói này diễn tả điều gì và có ý nghĩa gì trong bối cảnh Tin Mừng Gio-an?
Đề tài tình yêu và tình bạn về phía Đức Giê-su và các môn đệ đã được bàn đến trong tập sách Tình yêu và tình bạn trong Ga 15,9-17, hai tập sách này tập trung tìm hiểu đề tài “yêu và ghét” của những người không tin vào Đức Giê-su trong Tin Mừng, và thử đưa ra câu trả lời của Đức Giê-su và của các môn đệ khi phải đối diện với sự thù ghét của thế gian.


Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả. 

Ngày 19 tháng 10 năm 2010
Giu-se Lê Minh Thông, O.P. 
Email: josleminhthong@gmail.com

SÁCH KHẢI HUYỀN HY LẠP - VIỆT

Dịch giả : Giu-se Lê Minh Thông, O.P. 
Phát hành : Trung tâm Học vấn Đa Minh, 2011
Số trang : 288
Kích cỡ : 14,5x21,4cm






Trích Lời nói đầu

“Khải Huyền là sách cuối cùng trong 27 sách của Tân Ước. Sách Khải Huyền kết thúc bằng lời xin: “Lạy Chúa Giê-su, xin Ngài hãy đến” (22,20). Đây là lời nguyện cầu của Hội Thánh qua mọi thời đại, nhất là lúc Hội Thánh gặp thử thách. Dù trong hiện tại các Ki-tô hữu đang gặp nhiều gian truân, nhưng sách Khải Huyền cho người tin biết rằng: Những thế lực sự dữ sẽ thất bại và sẽ bị xét xử. Chiến thắng chung cuộc thuộc về Đức Giê-su Phục Sinh và những ai trung tín với Người. Vì thế, sách Khải Huyền là nguồn động viên lớn lao cho các môn đệ Đức Giê-su. Với sự hiện diện và sự khích lệ của Đấng Phục Sinh, người Ki-tô hữu có sức mạnh, can đảm và nghị lực để trung tín với Người cho đến cùng.

Tuy nhiên, nội dung mặc khải trên được chuyển tải bằng thể văn khải huyền. Nghĩa là những thực tại lịch sử và những chân lý mặc khải được trình bày qua các biểu tượng. Cần biết ý nghĩa của biểu tượng để lĩnh hội thông điệp của câu chuyện. Chẳng hạn, các nhân vật như: “Con Mãng Xà”, “Con Thú”, “Con Điếm” được viết hoa vì chúng có nghĩa biểu tượng. “Con Mãng Xà” là Xa-tan, “Con Thú” là hoàng đế Rô Ma, “Con Điếm” là thành Rô Ma với hai nghĩa: 1) Thờ ngẫu tượng là bất trung với Thiên Chúa, là ngoại tình, là làm điếm. 2) Ám chỉ lối sống xa hoa truỵ lạc của thành Rô Ma thời đó.

Sách Khải Huyền còn dùng biểu tượng các con số và màu sắc. Chẳng hạn, 7 thần khí, 7 ấn, 7 chén tai ương, 12 chi tộc, 24 vị Kỳ Mục, 42 tháng, 1.000 năm, v.v... những con số này có ý nghĩa gì? Về màu sắc, có màu trắng (ngựa trắng, áo trắng, mây trắng, tóc trắng), gam màu đỏ (đỏ thẫm, đỏ tía, đỏ như lửa, màu lửa), màu đen và màu xanh nhạt... những màu này ám chỉ điều gì? Các Chú thích và Phụ lục trong cuốn Sách Khải Huyền Hy Lạp – Việt sẽ trả lời phần nào ý nghĩa của các biểu tượng trên. Tập sách này giúp tiếp cận bản văn gốc Hy Lạp và đôi lúc có thêm trong ngoặc tiếng Anh hoặc tiếng Pháp để giúp hiểu dễ dàng hơn các từ ngữ.

Trong hành trình trần thế, những thử thách trong cuộc đời có thể làm người Ki-tô hữu mệt mỏi, chán nản, thiếu sức sống. Hãy đọc sách Khải Huyền, hãy đến với Đấng Hằng Sống để được ghi tên vào “sách sự sống” và đội “triều thiên sự sống”, để được ăn “trái cây sự sống” và “uống nước sự sống” là thứ lương thực có khả năng làm thoả mãn mọi khát vọng sâu xa của con người.”

Xin giới thiệu đến độc giả Sách Khải Huyền Hy Lạp – Việt, với ước mong được góp phần nhỏ mọn vào việc học hỏi và sống Lời mặc khải. 

Ngày 08 tháng 10 năm 2011.

Giu-se Lê Minh Thông, O.P. 
email: josleminhthong@gmail.com

TIN MỪNG MÁC-CÔ, HY LẠP - VIỆT

Dịch giả : Giu-se Lê Minh Thông, O.P. 
Phát hành : Trung tâm Học vấn Đa Minh, 2011
Số trang : 236
Kích cỡ : 14x20cm






Trích: “Lời nói đầu”

Tài liệu Tin Mừng Mác-cô, Hy Lạp – Việt nhằm đáp ứng nhu cầu học hỏi Tin Mừng Mác-cô. Trong việc tìm hiểu Kinh Thánh, người đọc luôn có nhu cầu tiếp cận bản văn gốc để định hướng cho việc hiểu bản văn. Đồng thời nhận ra rằng bản văn chúng ta có hiện nay hàm chứa những điểm tinh tế, kể cả những khó khăn và phức tạp, để từ đó không quá dễ dàng trong việc giải thích Kinh Thánh. Tiếp cận bản văn gốc sẽ mở ra cho người đọc sự phong phú trong cách hiểu bản văn, giúp người đọc trung thành với bản văn và hiểu đúng mặc khải của Thiên Chúa trong các sách mà Hội Thánh đã nhận vào Quy Điển.

Riêng Tin Mừng Mác-cô, đã có những bản dịch có giá trị với những chú thích hữu ích giúp hiểu Tin Mừng này. Về tiếng Việt có bản dịch Kinh Thánh trọn bộ của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (1999); bản dịch Tân Ước, có hiệu đính (2008). Bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn (1976) chủ trương dịch sát, giúp tiếp cận bản văn gốc. Ngoài ra còn có các bản dịch tiếng Việt và các thứ tiếng khác. Các tác giả viết sách chú giải Tin Mừng Mác-cô cũng thường đề nghị cách dịch riêng dựa trên bản văn gốc Hy Lạp.

Cuốn sách Tin Mừng Mác-cô, Hy Lạp – Việt này không thay thế các bản dịch mà chỉ góp phần vào nhu cầu tiếp cận bản Hy Lạp Tin Mừng Mác-cô. Người không biết tiếng Hy Lạp có thể xem phần chuyển ngữ tiếng Việt là một cố gắng vừa theo sát bản văn gốc Hy Lạp vừa giữ cho câu cú tiếng Việt có thể hiểu được. Với người biết tiếng Hy Lạp, phần chuyển ngữ tiếng Việt chỉ là gợi ý, mỗi người có thể chuyển ngữ theo văn phong riêng để lột tả ý nghĩa phong phú của bản văn.

Học hỏi Kinh Thánh là việc làm không bao giờ xong. Tìm hiểu Tin Mừng không chỉ để biết kiến thức mà quan trọng hơn là biết để sống, để gặp gỡ Đức Giê-su và để thấm nhuần giáo huấn của Người. Xu hướng tìm hiểu Kinh Thánh hiện nay chú trọng đếnbản văn và người đọc (độc giả mọi nơi, mọi thời). Thực vậy, người đọc có vai trò chủ động, vì người đọc có quyền chọn phân tích và đào sâu những khía cạnh khác nhau trong bản văn phù hợp với ưu tư, tìm kiếm và hoàn cảnh của mỗi người.

Phần chuyển ngữ tiếng Việt trong tập sách này vẫn cần được cập nhật, điều chỉnh và bổ sung trong quá trình học hỏi và tìm hiểu bản văn. Rất mong được sự góp ý của độc giả để cùng nhau làm cho việc học hỏi Lời Chúa trở thành niềm say mê và hứng thú cho mọi người.


Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả.


Ngày 14 tháng 06 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com

BẢN VĂN GIO-AN, TIN MỪNG VÀ BA THƯ, HY-LẠP – VIỆT

Dịch giả : Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Phát hành : Trung Tâm Học vấn Đa Minh, 2011
Số trang : 340
Kích cỡ : 14x20cm







Trích Lời nói đầu

Học hỏi Kinh Thánh là việc làm không bao giờ cùng. Bằng chứng là đã hơn hai mươi thế kỷ qua, Kinh Thánh vẫn được học hỏi với nhiều phương pháp khác nhau tùy theo tâm thức của mỗi thời đại. Hơn nữa, học hỏi Lời Chúa không phải chỉ để “biết” mà quan trọng hơn là để “sống”, để “được nuôi dưỡng”. Lời Chúa giúp đón nhận sự sống đích thực nhờ tin vào Đức Giê-su như kết luận sách Tin Mừng Gio-an: “Những điều đã được ghi chép là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và nhờ tin, anh em có sự sống trong danh Người” (Ga 20,31).
Hướng học hỏi Kinh Thánh hiện nay chú trọng đến bản văn và người đọc. Người đọc có vai trò chủ động, người đọc có thể chọn đào sâu khía cạnh nào trong bản văn phù hợp với sự tìm kiếm của mình. Cuộc đời và ưu tư của mỗi người khác nhau, nên bản văn cũng được đọc với nhiều tâm trạng khác nhau. Khi đọc bản văn với cuộc đời của mình, người đọc làm cho bản văn trở nên sống động và ý nghĩa bản văn thêm phong phú.
Người đọc thì nhiều, nhưng bản văn chỉ có một. Làm thế nào để không xa rời bản văn, hay gán cho bản văn những điều xa lạ với sứ điệp của bản văn? Việc học hỏi Kinh Thánh luôn có nhu cầu tiếp cận bản văn gốc để tránh nguy cơ rời xa ý nghĩa của bản văn. Tiếp cận bản văn gốc giúp người đọc trung thành với sứ điệp mặc khải trong Kinh Thánh. Tiếp cận bản văn gốc vừa nhận ra sự phong phú, vừa ý thức sự phức tạp của bản văn để không ngừng tìm kiếm.
Đã có những bản dịch Kinh Thánh tiếng Việt có giá trị. Chẳng hạn, bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn, các bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ; cùng với các bản dịch tiếng Việt và các thứ tiếng khác. Các nhà chú giải cũng thường đề nghị cách dịch sát bản văn gốc và dựa vào đó để chú giải.Bản văn Gio-an, TIN MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt là một cố gắng tiếp cận bản văn gốc Hy Lạp. Tập sách này không thay thế các bản dịch mà chỉ góp phần vào việc tìm hiểu bản văn. Người không biết tiếng Hy Lạp có thể xem phần tiếng Việt là dịch sát bản văn Hy Lạp theo từng ý, từng câu. Đối với người biết tiếng Hy Lạp thì phần tiếng Việt chỉ là gợi ý. Mỗi người có thể dịch theo văn phong riêng của mình. 
Học hỏi Tin Mừng và ba thư Gio-an là bước vào một thế giới muôn màu muôn vẻ trong kho tàng Lời Chúa. Ai yêu mến học hỏi “lời sự sống” sẽ tìm được “bánh sự sống” và “nước sự sống” làm “lương thực không hư nát” đem lại sự sống đời đời và ý nghĩa cho cuộc sống trần thế. 

Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả.

Ngày 08 tháng 04 năm 2011
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com